Công hay tội của PHAN THANH GIẢN trong việc điều đình với Pháp

 Công hay tội của  PHAN THANH GIẢN trong việc điều đình với Pháp

 Nguyễn Quốc Trị

 Phan Thanh Giản sinh năm 1796, đỗ Tiến sĩ năm Minh Mạng thứ 7, 1827 và làm quan suốt 3 triều vua nhà Nguyễn, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.  Công tác quan yếu nhứt của ông là ký kết Hiệp ước  5-6-1862, nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ.  Công tác thứ nhì là khi làm Kinh lược đại thần với nhiệm vụ gìn giữ 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ, ông đã để cho Pháp chiếm 3 tỉnh ấy không kháng cự, rồi tự tử.  Ông đã bị trừng phạt nặng trong cả 2 trường hợp,  rồi lại được miễn tội sau một thời gian dài.  Câu chuyện này đã gây ra nhiều tranh luận, kẻ khen người chê, từ đó đến nay.  Theo lởi của nhà cách mạng chủ báo Tiếng Dân Huỳnh Thúc Kháng, thì Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, chú vua Tự Đức, một nhà thơ văn nổi tiếng cùng thời với Phan tiên sinh, cho rằng đó là một nổi oan lớn cần phải đợi 500 năm mới giải được. .

  1. Ký kết và thi hành Hiệp ước Nhâm tuất, 5-6-1862 là công hay tội?

Xin khẳng định là công, và công hết sức lớn lao, của hai vị quan gương mẩu của một nền hành chánh Khổng  Mạnh, Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp, vì 2 vị đã làm một việc hại cho minh mà lợi cho nước.

  1. Ký kết một hiệp ước thất dân tâm

 Quả vậy, mục đích thầm kín của Triều đình Tự Đức khi ký Hiệp ước Nhâm tuất, 5-6-1862 là  ngưng chiến với Pháp ở mặt trận miền Nam hầu mang quân ở đây ra Bắc mà dẹp loạn “con cháu nhà Lê”, do Ô. Tạ Văn Phụng cầm đầu, đang đe dọa sự tồn vong của nhà Nguyễn.  Nhóm họ Tạ  này lại cần phải được tiêu diệt gấp rút,  vì nhà Lê có thể thay thế nhà Nguyễn, hoặc biến miền bắc thành một vương quốc riêng đối thủ với miền nam như dưới  thời Trịnh Nguyễn phân tranh vậy.  Triều đình Tự Đức  biết rằng muốn thực hiện mục đích hưu chiến kín dó thì phải chịu ký kết một hiệp ước với những điều kiện như người Pháp đã từng đòi hỏi trong các năm trước, đại khái giống như Hiệp ước 5-6-1862;  mà chịu ký một hiệp ước như vậy là làm một việc hết sức thất dân tâm trong một nước   có truyền thống chống ngoại xâm mạnh mẽ như Việt Nam.  Nhưng việc thất nhân tâm ấy cần phải được thực hiện để cứu nước.bằng cách để cho 2 toàn quyền sứ thần làm, trái lại lệnh của Vua rồi chịu tội chiếu lệ.  Hai ông Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp là đại thần Cơ mật viện, cơ quan đưa ra mật kế này, đã tình nguyện lãnh chức toàn quyền sứ thần để làm công việc thất nhân tâm này.

Hai ông Phan, Lâm đã làm đúng theo mật kế, ký hiệp ước nhương 3 tỉnh mặc dâu Vua có dặn ngay trước khi đi là  nhất thiết không được cắt đất, và chịu tội, mặc dầu họ có thể dùng những mệnh lệnh khác để biện hộ cho mình. Các mệnh lệnh đó là lời nói của Vua trước khi họ lên đường:  Đất nước hiện đang lâm vào bước đường cùng khó gỡ; muốn thoát ra khỏi ngỏ bí đó chỉ còn trông mong ở các cánh tay của những thần dân dũng cảm và hy sinh tận tụy {như các người.}”   Ngoài ra, dụ của vua Tự Đức ngày 16-5-1862 cử 2 ông Phan, Lâm làm Sứ thần toàn quyền, có nói trong câu cuối rằng:” . . . hãy hành động với một sự thận trọng tối đa, hầu chấm dứt cuộc chiến sớm chừng nào hay chừng ấy, để hoàn thành sứ mạng ủy thác cho các ngươi.” .

Chung cuộc, nhiệm vụ thực sự phi chính thức của Phái đoàn Phan Thanh Giản là thực hiện một cuộc hưu chiến với Pháp để giúp nước nhà vượt ra khỏi ngỏ bí, đường cùng?  Ngỏ bí đường cùng đây là cái gì?  Đại thần Phạm Phú Thứ, một người đã từng tham gia tích cực vào việc thương thuyết với Pháp bên cạnh cụ Phan Thanh Giản, và làm Thượng thư và Đại thần Cô mật viện, trong bài điếu văn khóc người đàn anh khả kính, đã có nói bóng gió đến sự hy sinh cao cả và thầm kín của Phan tiên sinh trong việc ký Hiệp ước Nhâm tuất, là Ngài đã chấp nhận vai trò phạm nhân hầu đem lại đôi chút thảnh thơi cho một giai đoạn nguy biến. Giai đoạn nguy biến này, hay ngỏ bí đường cùng cũng đã được Phạm tiên sinh phác họa trong bài điếu văn là tình trạng kiệt quệ của nước nhà sau 5 năm đánh với Pháp và dẹp loạn ở Bắc Kỳ, chớ không nói rõ ra là loạn Tạ Văn Phụng, vì lý do bí mật quốc gia, mà chính sử nhà Nguyễn cũng cố ý giữ kín.

  1. Quy tội cho Phan Thanh Giản để bảo vệ chính nghĩa cho Vua

Thật vậy, theo Thực Lục, khi 2 đại thần Cơ mật viện Thanh Giản và  Tiễn Thành tâu trình lên Vua bức thư bàn về việc hòa của Nguyên soái Pháp Bonard do Phái viên Simon đi tàu máy vào cửa biển Thuận An trao, Vua hỏi ý kiến “đình thần là bọn Trương Đăng Quế đều lấy việc cho sứ đi lại là phải.Mặc dầu bức thư  đòi hỏi 3 điều kiện tiên quyết cho cuộc nghị hội chẳng khác gì một tối hậu thư, Vua và mọi đình thần đều thông qua các điều đòi hỏi đó một cách dễ dàng và mau chóng. Ba điều kiện đó là: 1. Việt Nam phải gởi đến hội nghị sứ thần có toàn quyền quyết định và ký hiệp ước ngay tại chỗ;  2. Việt Nam phải chịu trả bồi phí chiến tranh cho Pháp và Y;  3. Việt Nam phải trả trước, lập tức trong 3 ngày, 10 vạn quan tiền bồi phí chiến tranh để làm tin.  Vua chịu đưa 500 hoặc 1.000 lạng bạc, nhưng đình thần xin đưa thêm, còn Lâm Duy Thiếp thì xin đưa đúng số, và xin được đi sứ. Rồi Trương Đăng Quế lại tâu tiếp rằng “tôi rất lấy lời Duy Thiếp nói là phải, nếu không đoán định thì công việc không khi nào xong được.” Vua vẫn còn thắc mắc và do dự, nhưng sau cùng, “Đình thần xin theo lời Duy Thiếp nói.”   Đến đây,Vua không nói đồng ý hay không, mà chỉ chuẩn cho Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp làm chánh và phó sứ toàn quyền đại thần để nghị việc hòa, khi hai ông này xin đi sứ. Tiếp đó, Vua lại sai đình thần bàn định về các điều ước, Vua duyệt sửa lại rồi trao cho sứ đoàn theo đó mà thương thuyết.  Trong bản chỉ dẫn đó, Vua có phê bảo những điểm chính yếu liên quan đến đạo giáo, thông thương, và cắt đất.  Rồi khi 2 ông Phan, Lâm sắp lên đường, Vua thân rót rượu của mình dùng ban cho, và dụ rằngđất đai quyết không thể nào cho được, tà giáo quyết không cho tự do tuyên truyền được.”  Nhưng khi đến Sài Gòn, 2 viên ấy liền “đem đất 3 tỉnh Gia-định, Định-tường, Biên-hòa nhường cho Tây dương, lại nhận số bạc bồi quân phí đến 400 vạn đồng [ước tính đến 280 vạn lạng bạc], và lập nhà giảng đạo, mở phố thông thương, gồm 12 khoản, chép làm hòa ước, mới được 20 ngày, đã đi thuyền trở về đem việc tâu lên.”  Vua nói là mình rất đau lòng và 2 ông Phan, Lâm “không những là người có tội của bản triều, mà là người có tội của nghìn muôn đời vậy!”  Nhưng, tuy bất bình với 2 sứ thần như vậy, Vua không đặt vấn đề phủ nhận hiệp ước mà 2 ông Phan, Lâm đã ký, mà chỉ đưa việc xuống cho đình thần bàn xét, và được phúc tâu rằng: “về khoản cắt đất bồi ngân, 2 viên ấy đã làm phần nhiều chưa hợp.  Nhưng điều ước mới định, nếu vội sửa đổi ngay, sợ họ còn tức khí chưa chắc đã nghe ngay.  Xin chuyên trách 2 viên ấy ở gần bàn tính châm chước dần dần để chuộc lỗi trước, hãy đợi khi sai sứ tới hỏi, nhân cơ mà châm chước nghĩ định.”  Tuy vậy, đình nghị lại cho là 2 sứ thần “đã xếp đặt không giỏi. Xin bắt tội.”  Vua nói bây giờ làm sao có đủ người hiền tài để đổi hết được, rồi cho Phan Hiệp biện làm “lãnh Tổng đốc Vĩnh Long, Duy Thiếp lãnh Tuần phủ Thuận – Khánh cùng với tướng nước Phú biện bác để chuộc tội.”

  1. Di chuyển chủ lực quân đội từ Nam Kỳ ra Bắc Kỳ

Rồi lập tức Vua y theo ý kiến của đình thần là tập trung quân lực vào việc dẹp loạn đang lan tràn mạnh mẽ ở Bắc Kỳ: “Nay việc phòng bị ở Kinh sư đã thư, công việc Nam Kỳ nên chuyên ủy cho Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp đứng làm.  Xin liệu lượng rút về, phái ra 6 vệ, chia đóng ở Hải-dương, Bắc-ninh, mỗi nơi 2 vệ, chia đóng Nam-định, Hà-nội, mỗi nơi một vệ, khi đi khi về để sự khó nhọc, nhàn rỗi đều nhau.”  Đồng thời, Thượng thư bộ Hình Trương Quốc Dụng được bổ làm Tổng đốc Hải – Yên quân vụ đại thần đem quan quân ở Kinh và Thanh Nghệ đến ngay miền đông Bắc Kỳ để dẹp giặc. Hầu hết các quan ở quân thứ Nam Kỳ và các tỉnh miền Nam Trung Kỳ được lần lượt thuyên chuyển ra Bắc. Các quan có óc “chủ chiến”  đều được chuẩn cho dùng nguyên hàm sung làm chức thương biện ở tỉnh nhà ở Bắc Kỳ để cai quản quân hương dõng.  Vài tháng sau khi hiệp ước 5-6-1862 được ký, vào thu 1862, đại thần Nguyễn Tri Phương, từ Bình Thuận về Kinh, được bổ làm Tây Bắc Tổng thống quân vụ đại thần, mang đại đội binh mã tiến ra Bắc.  Khoảng giữa năm sau, 1863, nội loạn ở miền Tây Bắc được dẹp xong, họ Nguyễn được sung làm Tổng thống Hải – Yên quân vụ; và Tổng đốc Hải – Yên quân vụ Trương Quốc Dụng được đổi làm Hiệp thống để cùng với Tổng thống Tri Phương mau chóng đánh dẹp giặc “con cháu nhà Lê”.  Trong 3 năm trời, quan quân đã chiến đấu hết sức gian khổ để chiếm lại nhiều tỉnh, phủ, huyện thành, và số chiến sĩ đã hy sinh tính mạng tại mặt trận không sao kể xiết.  Chỉ trong một trận ở xã La Khê, tổng Hà Bắc,  tỉnh Quảng Yên, vào tháng 7, 1864, số văn võ quan bị chết là: Hiệp thống Trương Quốc Dụng, Hiệp biện đại học sĩ, Tiến sĩ, và Hình bộ Thượng thư;  Tán lý Văn Đức Khuê, Tiến sĩ và Tuần phủ Quảng Yên;  Tán tương Trần Huy San; Tri huyện Yên Hưng Võ Duy Nghị; Quản viên là Hoàng Đắc Nhị, Nguyễn Thanh;  Bị giặc bắt và vì không chịu khuất nên bị giặc giết: Chưởng vệ Hồ Thiện; Số quân lính bị thương, chết, và thất lạc: 380.  Trong trận này, sau khi tiền đạo bị thua và Hiệp thống Trương Quốc Dụng coi trung đạo bị giặc giết chết, Tán lý Văn Đức Khuê ở hậu đạo đã “mang quân xô tới đánh mà chết”, sau khi nói rằng “Đại thần đã chết, ta  mặt mủi nào sống lấy một mình.”.  Vào cuối 1865,  Tạ Văn Phụng cùng hầu hết các thủ lãnh và đầu mục của cuộc phản loạn mới bị bắt, kết án, và trị tội.  Rồi đến thu 1866, Tổng thống Nguyễn Tri Phương và Hiệp thống Võ Trọng Bình mới rút quân về Kinh ca khúc khải hoàn. Nếu không có nền hòa bình với Pháp do Hiệp ước 5-6-1862 mang lại, thất rất khó lòng cho Nguyễn Triều thắng được một lực lượng to lớn như vậy. Trong thư ngày 26-8-1862 gởi Đề đốc Bonard, Ô. Tạ Văn Phụng có nói: “Thủy quân của tôi gồm có 700 thuyền cả lớn lẫn bé; lục quân của chúng tôi lên đến trên 400.000 người. Hiện chúng tôi vây 5 thủ đô lớn.  Trên một trăm phủ huyện đã đầu phục.”  Những thủ lãnh cao cấp bị bắt và lăng trì xử tử là: ngụy Minh chủ Tạ Văn Phụng; Trung quân Nguyễn Đình Ước; Tả quân Lê Bá Đức; Hữu quân Vy Xuân; Hậu quân Phan Văn Khương; Sư phụ Nguyễn Văn Niên, đạo Gia Tô; và 29 đầu mục.  Sự đánh bắt được toàn bộ cấp chỉ huy này cũng như thực trạng chiến trường ở đông bắc Việt Nam với bao nhiêu sự hy sinh của quan quân và dân chúng trong bán thập niên đầu của 1860 đã cho thấy rằng những lời phô trương về lực lượng của mình của họ Tạ không phải hoàn toàn là ngoa truyền, và sự hòa hoãn với Pháp do Phan tiên sinh âm thầm đem lại với Hiệp ước  1862 là cần thiết biết bao..

  1. Gìn giữ sự hòa hoãn với Pháp bằng sự thi hành đứng đắn Hiệp ước 1862

Tù sau khi ký Hiệp ước 5-6-1862 cho đến khi mất 3 tỉnh miền Tây, Cụ Phan được giao phò việc thi hành hiệp ước thế nào để hòa hoãn với Pháp hầu cho Cụ Nguyễn Tri Phương và quan quân đưa ra Bắc Kỳ có thể yên tâm đánh dẹp loạn Tạ Văn Phụng được sự hậu thuẩn của giới Thừa sai Y và Pháp. Các công tác này, làm vừa lòng người Pháp, lại càng làm cho đại chúng tưởng lầm rằng ông theo Pháp. Trước hết, việc trao đổi hiệp ước  được phê chuẩn đã gây ra vô số vấn đề.  Có lần 2 chủ súy Pháp, Y  Bonard và Palanca đã gởi thơ hăm dọa Triều đình là họ sẽ trợ giúp cho Tạ Văn Phụng trở lại, nếu Vua không chịu phê chuẩn gấp hiệp ước. Vua Tự Đức không chịu thân hành nhận bản văn hiệp ước đã được  Quốc trưởng Pháp và  Y phê chuẩn từ tay các sứ thần của 2 nước ấy, vì như vậy là vi phạm nghi lễ theo đó Vua chỉ thân tiếp sứ Tàu mà thôi.  Pháp nhất quyết đòi hỏi sư thi hành khoản này, nhưng Vua lại thấy  khoản này chỉ được ghi trong bản văn chữ Pháp, mà không có ghi trong bản văn chữ Nho của hiệp ước.  Sau nhiều cuộc  bàn cãi và thư đi từ lại, cuối cùng hai bên phải tương nhượng bằng sự triều kiến, theo đó các sứ Pháp được gặp Vua trong một lễ đại triều, vào cửa Ngọ môn bên trái khỏi phải lạy  Sau khi Hiệp ước 5-6-1862 được vua Tự Đức phê chuẩn và trao đổi ở Huế với các đại diện Pháp, Y là Bonard và Palanca,  Phan hiệp biện được Vua cử đi theo các ông này vào Sài Gòn để thâu nhận thành Vĩnh Long, như đã định trong hiệp ước.  Đồng thời, Vua cũng dặn Cụ khéo nói với 2 vị ấy để họ thôi giúp nhóm giặc sông nước “con cháu nhà Lê”  ở Bắc Kỳ, đừng cho họ thuê tàu nữa, và cũng ngưng khuyến dụ nước Cao Mên ngăn trở, phá hại Việt Nam nữa. Ngoài ra, Phan hiệp biện phải bàn định với họ việc dùng chung hệ thống đường trạm tại các tỉnh đã bị họ xâm chiếm, và sự thông thương ở 3 cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên.

 Vào cuối xuân 1863, Phan tiên sinh về lại thủ đô, rồi cùng các đình thần “chủ hòa” dâng sớ xin chịu tội, vì tự cho là đi thương thuyết không được công trạng gì.  Việc đưa xuống bàn, và khi  án trình lên, 2 Cụ Phan, Lâm bị tội nặng nhứt, là “trảm giam hậu”,  nhưng Vua gia ơn giảm xuống tội “cách lưu”.  Ô.  Lâm Duy Thiếp, đã mất vì bệnh thổ tả nhân lễ trao  đổi Hiệp ước 1862 ở Huế, bị truy đoạt lại chức hàm. Hai ông Đoàn Thọ và Trần Tiễn Thành bị kết tội phạt trượng, giáng 4 cấp đổi đi, nhưng được giảm xuống tội giáng chức lưu dụng; Ô. Phạm Phú Thứ và nhiều vị khác bị giáng phạt có thứ bậc khác nhau.

  1. Yêu cầu Pháp cho chuộc lại các tỉnh miền Đông

 Vào tháng 6, 1863 Hiệp biện đại học sĩ Phan Thanh Giản, Tả tham tri Lại bộ Phạm Phú Thứ, và Án sát sứ Quảng Nam Ngụy Khắc Đản, 3 vị tiến sĩ xuất sắc, được cử đi Pháp với tư cách, theo thứ tự, là Chánh, Phó, và Bồi sứ, để xin chuộc lại các tỉnh miền đông Nam Kỳ.  Sứ đoàn may mắn đến Pháp lúc Chính phủ của Hoàng đế Nã Phá Luân III bị thiếu hụt ngân sách trầm trọng vì cuộc chiến ở Mễ Tây Cơ và Âu châu, và muốn dùng tiền chuộc các tỉnh miền đông Nam Kỳ để bù đắp  vào sự thiếu hụt đó.  Trong thư gởi cho Pháp Hoàng do sứ đoàn trình thẳng lên ngài, vua Tự Đức cũng có nói rất khéo léo rằng việc chiếm các tỉnh là do các ông Bonard và Palanca vượt quyền mà làm, chớ ủy nhiệm thư của Hoàng đế và Nữ Hoàng Y  không có nói gì đến việc xâm chiếm đất đai cả; và Vua cũng có đề nghị nhượng cho Pháp một số căn cứ ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Thủ Dầu Một, để giúp vào việc thông thương buôn bán.  Vua xin Pháp Hoàng làm theo như người Anh ở Quảng Đông, trả tỉnh thành lại để lấy tiền chuộc.  Sứ đoàn trở về khá lạc quan với 2 dự ước dựa theo ý muốn của vua Tự Đức, với lời hứa hẹn là ít lâu sau, đại diện Pháp sẽ đến Huế để kết thúc hiệp ước mới. Đến  tháng 6, 1864, Phan Hiệp biện được bổ sung làm Chánh sứ toàn quyền để cùng với 2 vị Phó sứ toàn quyền, Trần Tiễn Thành và Phan Huy Vịnh hội bàn với Đại diện của Chính phủ Pháp là Ô.  Aubaret mới đến Huế để kết thúc 2 dự án hiệp ước đã được  Phái đoàn Phan Thanh Giản mang về trong chuyến đi Pháp vừa qua.   Các điểm quan trọng nhất trong  các văn kiện này là: Pháp bằng lòng trả lại 3 tỉnh, nhưng Việt Nam phải cắt bỏ 8 xứ trong các tỉnh ây giao cho Pháp quản hạt. Về tiền chuộc lại các tỉnh, Việt Nam phải trả “trong hạn 3 năm, mỗi năm 50 vạn đồng; sau khi trả đủ 3 năm, mỗi năm thường giao trả một số bạc là 333.333 đồng” vô thời hạn.  Cuộc thương thuyết gặp rất nhiều khó khăn vì sư bất đồng ý kiến giữa các thân phiên, đình thần, và quan cấp cao, quan cấp thấp.  Phan chánh sứ đã đôi lần từ chức, và Ô. Aubaret vài lượt muốn bỏ cuộc, nhưng nhờ sự hòa giải, khuyên răn của vua Tự Đức, cuộc họp được kéo dài vô tận, và rút cục  một hiệp ước được phái doàn 2 bên ký ngày 15-7-1864 và vua Tư Đức phê chuẩn cho phía Việt Nam.  Còn về phía Pháp, thì cần phải đợi xem Chính phủ có bằng lòng hạ số bồi khoản xuống là  333.333 đồng mỗi năm, chỉ trả trong 40 năm, thay vì mãi mãi, một việc mà Ô, Aubaret không có quyền làm, vì đã có chỉ thị trước là không được thay đổi khoản đó.  Hoàng đế Nã Phá Luân III, sau một thời gian lặng thinh, âm thầm phủ nhận tục ước bằng cách tiếp tục lặng thinh để cho nó tự rơi vào quên lảng. 

  1. Công hay tội của Phan Thanh Giản trong việc để mất miền Tây Nam Kỳ

Ký xong hiệp ước Aubaret, Phan tiên sinh được hưởng một thời gian làm quan tương đối dễ thở hơn đôi chút. Vào đầu đông, 1864 ngoài chức Hiệp biện đại học sĩ, tùng nhứt phẩm [1/2], lãnh Thượng thư bộ Hộ, chánh nhị phẩm [2/1] sung Cơ mật viện đại thần , Vua lại còn cử ông kiêm sung 2 chức nữa là Tổng tài Quốc sử quán, kiêm quản Quốc tử gíám. Vào đầu xuân, 1865 Công tử Hồng Tập, em con chú vua Tư Đức,  thuộc  nhóm “chủ chiến”, bất mãn với các hiệp ước đã ký với Pháp, âm mưu đảo chánh và lùng bắt giết 2 “toàn quyền đại thần” Phan Thanh Giản và Trần Tiễn Thành mà họ cho là “chủ hòa, bán nước “, nhưng cuộc đảo chánh không thành, các ông không hề hấn gì.  Vào cuối thu, 1865 Phan hiệp biện xin về hưu trí vì tuổi già, gần 69, bị Vua vời vào Nội các và “truyền chỉ quở mắng.”, rồi lại ủy lạo và dỗ dành, Phan tiên sinh không làm sao bỏ cuộc được.

  1. Phan Thanh Giản làm Kinh lược đại thần 3 tỉnh Long – An – Hà

 Khoảng đầu 1865, sau khi thông báo chính thức cho Triều đình Huế là Hiệp ước Aubaret không thành và Hiệp ước cũ, 5-6-1862 vẫn tiếp tục có hiệu lực, và yêu cầu Vua ra lệnh cho quan quân ở Nam Kỳ chấm dứt việc mộ nghĩa quân kháng chiến, người Pháp mang quân đi tàu thủy vào cửa biển Phan Rang, Bình Thuận để do thám và đòi quan địa phương phải bắt giao cho họ một người tên là Phan Trung và bộ ha, vì phe ông này theo nhóm Ô. Trương Định đi đánh chống quân Pháp, mãi đến lúc Hiệp ước  1862 được ký vẫn tiếp tục ra vào các rừng rú 3 tỉnh miền đông “đánh úp giết người Phú và lính Ma-tà”.  Vua sai gởi thơ tìm cách giải thích cho Pháp rõ, rồi sức cho Phan Trung và đồng bọn hãy “rủ nhau lánh xa đi để lưu dùng sau này.”  Vào tháng 10, 1865 Pháp, thể theo lời yêu cầu của vua Cao mên là Ong Lằn, đòi Việt Nam phải bắt giao em của ngài là Hoàng thân Ong Bướm, người đã dựng đồn mộ quân chống lại vua anh. Vua Tự Đức liền ra lệnh cho tỉnh thần “phải nghiêm ngặt cự tuyệt bọn Man tù là Ong Bướm” mà trước đó đã từng được họ cho nương tựa.  Tiếp đó, Triều đình nhận được mật sớ của Tổng đốc Vĩnh Long Trương Văn Uyển tâu là mới nhận được  “thư của chủ súy Pháp nói nếu muốn hòa phải bắt tên Ong Bướm . . . giao để trị. Lại nói tỉnh An- giang dong chứa tên Ong Bướm.  Lại đi tàu thủy chạy hơi máy, đậu ở An-giang bức bách phải bắt giao.” Vua lo, sợ người Pháp làm lớn chuyện trong lúc cuộc nội loạn của nhóm Tạ Văn Phụng và “con cháu nhà Lê” khác, cùng giặc biển, giặc sông nước vẫn dây dưa chưa dẹp xong, và nói rằng “nơi biên cương xa xôi trơ trọi, thật khó mà giữ gìn, nếu được người nào Tây dương vốn tín phục, họa chăng mới êm được.” Và người đã được đình thần đề cử để làm việc đó dĩ nhiên là Cụ Phan Thanh Giản, vị đại quan có uy vọng vào bậc nhất trong Triều, và nhứt là đã từng được người Pháp nễ vì. Vua dỗ dành và hỏi họ Phan có kế gì thì tiên sinh tâu xin đem lòng thành tín ra đối xử, thì dù người Pháp có gian tham đến đâu cũng phải trở lại đáp ứng đàng hoàng với mình, và để cho mình yên.  Nói khác đi, “giữ sự tín thực cho họ mến, bỏ sự nghi ngờ, thì dù kẻ giáo giở đến đâu cũng phải tự yên.”   Kết quả cuộc bàn luận sôi nỗi này giữa vua tôi là: Hiệp biện đai học sĩ lãnh Hộ bộ Thượng thư Phan Thanh Giản, vẫn giữ cách lưu, sung làm Kinh lược đại thần 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

  1. Trừng phạt những phần tử kháng chiến để mua lòng người Pháp

Vào đến Vĩnh Long gầu cuối 1865, Phan kinh lược không những phải lo tống khứ ra khỏi biên giới, hoặc nã bắt và giải giao cho Pháp các phần tử Miên và Chà Và chống Pháp mà còn phải đối phó với các quan quân của Triều đình ở địa phương ủng hộ những phần tử ngoại quốc ấy, hầu tỏ rõ cho người Pháp lòng thành tín của Triều đình.  Vào đầu hè năm sau, 1866 Phan tiên sinh tâu báo rằng Á Xoa họp bọn ở Thất Sơn là do Tri Phủ Tĩnh biên Hoàng Khoán dụ dỗ, để trừ bọn Man ngoan ngạnh. Phủ Khoán lại cướp bóc trâu bò, súc vật của dân ngoài biên và còn ủy cho lệ mục là Nguyễn Văn Dũng, gây bậy hấn khích ở ngoài biên.  Đốc thần là Phan Khắc Thận và tỉnh thần thì lưỡng lự không quyết.  Nay Ong Bướm trốn ở Thất Sơn, tỉnh thẩn ở đó, “lúc nói ngăn chận, lúc nói sai bắt, chỉ nói lấy mẽ hảo mà thôi.”  Vì thế, chủ súy Pháp chưa hết nghi ngờ. Và họ Phan xin chọn nhân viên khác thay các người ấy, bắt “giải chức, xét rõ tội, để phục tòng người mà dẹp mối lo lắng ờ ngoài.”  Vua đều nghe lời, cho hội đồng tra xét, cách chức Tổng đốc Phan Khắc Thận, và Án sát Phan Ích Nhượng; phạt trượng và lưu Tri phủ Hoàng Khoán; xử “trảm giam hậu” lệ mục Nguyễn Văn Dũng. Rồi Tổng đốc mới thay Phan Khắc Thận là Nguyễn Hữu Cơ cũng bị Vua giáng 2 cấp, lưu tại chức, vì bị Phan kinh lược tố cáo là đã làm việc táo bạo làm cho người Pháp ngờ vực thêm, như tự tiện tha Á Xoa, không chịu bắt giải Thiên hộ Dương mà chỉ đưa đi khẩn hoang.  Trước kia, sau khi ký Hiệp ước 5-6-1862, Phan tiên sinh đã phải làm như vậy đối với các phần tử kháng chiến, như người hùng Trương Định, nên đã bị phe “chủ chiến” chỉ trích rất nhiều, như đã bị mưu sát mới năm trước, bởi nhóm phản loạn Hồng Tâp.  Liền sau vụ Thất Sơn này, Phan tiên sinh, xin về hưu vì già ốm.  Vua quở và không cho, bảo phải  thu phục cho được 3 tỉnh miền đông đã.  Bị kẹt cứng quá lâu trong vai trò phải chống lại phe kháng chiến, Phan tiên sinh đã bày tỏ nỗi lòng của mình khi nói với Thiếu tá Pháp Ansart, tỉnh trưởng Mỹ Tho rằng, 3 tỉnh miền Tây “không thuộc về các ông hay sao, và nhà chức trách [Việt] đã không chuyên tâm thỏa mãn tất cả nhưng đòi hỏi của vị Thống đốc hay sao […] Các ông không hành xử một uy quyền gần như là tối thượng về thực tế ở đây hay sao mà đảng quá khích chê trách chúng tôi là bọn nô lệ của người Pháp.

Tháng 10, 1866 Giám đốc Nội vụ Pháp ở Gia Định là Ô. Vial và Thông ngôn là Linh mục Dương [Legrand de la Liraye] đến Huế “đòi lấy đất 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên”, và hăm với các đối thoại Phan Huy Vịnh và Phạm Phú Thứ rằng “nay không chịu giảng định, sợ bọn mộ nghĩa ngày càng làm càn, tướng nước Pháp bất nhật gây ra việc chiến tranh mà thôi.”  Sau khi các đại biểu Pháp ra về, Vua ra lệnh cho đình thần hội bàn tìm cách đối phó khi Pháp tấn công chiếm 3 tỉnh, đồng thời báo cho Phan Kinh lược cùng các quan lớn ở miền Tây Nam Kỳ xét kỹ cách đánh, hòa tâu về.  Kết quả là: Thân phiên và đình thần đề nghị nên đàm phán.  Còn viện Cơ mật thì chủ trương rút lui, bỏ miền Tây.  Còn vua Tự Đức thì bảo giao cho Phan Thanh Giản điều đình.  Vào tháng sau, Đề đốc De La  Grandière đưa thư định ngày hội bàn hiệp ước mới. Viện Cơ mật xin viết thư biện thuyết và báo cho Phan Kinh Lược đi lại hội bàn, chước định tâu về. Vua không chịu, bảo kiếm người khác, vì Thanh Giản hiền lành nhún nhường quá, không thuyết phục được Tướng Pháp; nhưng đề nghị ai Vua cũng không bằng lòng cả, và việc trả lời cho Đề đốc Pháp không thấy được xúc tiến. Vua liền xoay qua làm những việc có tính cách tự cường để bảo vệ miền đất còn lại là Trung và Bắc Kỳ, như:  tổ chức lễ ăn mừng cuộc chiến thắng giặc Tạ Văn Phụng ở Bắc kỳ;  Ra dụ “chuẩn cho 3 tỉnh Vĩnh Long, An  Giang, và Hà Tiên kê khai những người mộ nghĩa, lượng cho chức hàm để khuyến khích”; Chấp thuận đề nghị của Ô. Nguyễn Văn Tường cho người khai khẩn đất hoang và khai mỏ ở chung quanh đồn Trấn Lao, Quảng Trị, vì “nghe người  Tây sắp phái người chiếm đất hoang ở đàng sau núi nên phải tính ngay”. Vào đầu 1867, Vua cũng cho phép thực hiện 6 điều tâu bày của Nguyễn Văn Tường về việc sơn phòng Cam lộ, Quảng Trị, trong đó có việc mở con đường ở thượng du từ Tây Sôn tỉnh Bình Định và Trấn Ninh tỉnh Nghệ An thông đến Cam Lộ để làm hậu lộ cho thủ đô khi có chiến tranh.  Và Vua không quên nhắc bảo gởi cho Kinh lược Phan Thanh Giản bản mật tâu của Cơ mật viện về việc bỏ miền Tây nếu bị Pháp tấn công.

  1. Kết quả thuận lợi của mật kế bỏ miền tây Nam Kỳ

Qua đấu 1867,  De La Grandière bắt đầu chuẩn bị cuộc tấn công 3 tỉnh miền Tây và đến 20 tháng 7 thì ra tay.  Theo lời Thực Lục,  “ Lúc bấy giờ tướng Pháp đem rất nhiều binh thuyền đến sông Vĩnh Long, . . . sai người đưa thư mời quan kinh lược là Phan Thanh Giản đến nói chuyện . . . Thanh Giản đến ngay thuyền nước ấy để cùng biện thuyết, vẫn không chịu nghe, bèn khuyên viên ấy chớ nhiễu hại nhân dân, và tiền gạo chứa ở trong kho vẫn do ta coi giữ, viên tướng ấy bằng lòng nghe, một lát trở về, thì quân Pháp liền 4 mặt vào thành rồi.  Tướng ấy lại sai quân chia đi 2 tỉnh An Giang, Hà Tiên đi đến đâu cũng đại khái như thế [ngày 20 lấy An Giang, ngày 23 lấy Hà Tiên] rồi đem quan 3 tỉnh đều cho ở dinh Tổng đốc Vĩnh Long, lại phái tàu thủy đến cửa biển Thuận An báo để vua biết.”  Phan Kinh lược đã điều đình với Đề đốc La Grandière lấy số tiền và gạo trong kho 3 tỉnh tính ra là 1.000.000 đồng bạc trừ vào tiền bồi thường chiến tranh mà Triều đình phải trả cho Pháp và Y trong năm ấy.  Ông cũng đem mũ áo chầu và ấn triện và làm sớ để nộp về Triều. 

Hậu quả của sự không chống cự lại cường quyền để mặc cho Pháp chiếm miền tây Nam Kỳ dù sao cũng đưa lại cho Việt Nam khá nhiều lợi điểm như viện Cơ mật đã dự liệu.  Ba tỉnh này coi như đã mất rồi, vì dã bị Pháp bao vây mọi mặt, và có ý muốn xâm chiếm từ lâu trước rồi.  Việt Nam cũng đã rút phần lớn quân của mình ra khỏi vùng này để khỏi bị Pháp vây khổn và tiêu diệt.  Hành động dùng cưỡng lực này làm cho Pháp bị mang tiếng xấu là đã xé bỏ một hòa ước mà mình đã long trọng ký kết với tư cách là một đại cường đàn anh.  Quan trọng nhất là nó làm cho Hiệp ước 5-6-1862 trở nên vô hiệu [caduc] cho phép Việt Nam có thể không thi hành những nghĩa vụ của mình; và Triều đình đã không trả bồi phí chiến tranh, làm cho Pháp phải trả cho nước Y phần bồi phí mà Việt Nam đáng lẽ phải trả cho Pháp để giao lại cho họ.  Trước khi cưỡng chiếm miền Tây, khi điều đình lập hiệp ước mới thay Hiệp ước 1862, không bao giờ người Pháp chịu miễn toàn phần bồi phí vì một nửa số đó phải được Pháp trả cho Y sau khi thu của Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn tiếp tục thi hành những điều khoản nào có thể làm được như cho tự do hành dạo, thông thương buôn bán, hầu có thể tiếp tục hưởng sư trợ gúp về kỹ thuật của Pháp và giữ sự hòa hoãn với Pháp như cũ.  De La Grandière tự thấy thẹn mặt, phải dỗ dành vua Tự Đức cử Toàn quyền sứ thần đi theo với y sang Pháp khi y về, để thương thuyết hiệp ước hợp thức hóa tình trạng mới.  Vua cử Ô. Nguyễn Văn Tường, làm bồi sứ để tham gia sứ đoàn đi sang Paris.  Nhưng Ô. Tường can không nên đi, vì tốn công của mà chẳng ích lợi gì, vì chúng chẳng bao giờ trả lại đất đã chiếm, và xin hãy cứ kéo dài tình trạng nửa nạt nửa mỡ hiện tại và lo tự cường, đợi thời cơ.  Vua nghe theo và cho 3 vị sứ thần, đã được triệu về Huế để đi sứ, trở về nhiệm sở cũ. Việc này có nghĩa là kết quả của kế sách bỏ miền Tây Nam Kỳ, coi như đã mất rồi, nếu không lợi hơn trước,  thì cũng không đến nỗi tệ hại gì hơn bao nhiêu.  Mất Nam Kỳ nhưng vẫn còn Trung Kỳ và Bắc Kỳ với chủ quyền đây đủ để tự do lo việc tự cường đợi thời cơ. Tình trạng ươn ươn dở dở này kéo dài những 7 năm trời mãi cho tới khi Hiệp ước 15-3-1874 được 2 ông Lê Tuấn và Nguyễn Văn Tường ký kết.  Vậy phải coi đó là cái công, thay vì cái tội, của Phan liệt sĩ.

  1. Cái chết của liệt sĩ Phan Thanh Giản

.Nếu là cái công thì tại sao mà ông phải tự vận?  Bức sớ ông gởi về cho vua Tụ Đức trước khi hủy mình có cho thấy vài lý do chính yếu.  Chết ngay trên đất 3 tỉnh mà mình có trách nhiệm chống giữ là một bổn phận giống như của một người có trách nhiệm giữ thành mà thành bị mất.  Nhưng trường hợp của ông khác, là ông đã bỏ đất theo mật lệnh của Vua, nhưng phải dấu không được nói ra. Ngoài ra, ông đã không thi hành lệnh đúng như ý Vua được, vì  đã không rút lui  lần lần về Phan Thiết mà lại đầu hàng ngay.  Bản sớ bắt đầu: “nay đương lúc gặp vận bĩ, giặc [Pháp] nổi lên ở ngoài kinh kỳ, yêu khí khắp biên giới, việc bờ cõi ở Nam Kỳ nay đến như thế, nhanh chóng có thể không thể ngăn chận được, tôi nghĩa nên chết không dám tạm sống để thẹn đến vua cha.”  Vua và đình thần là người trong cuộc  sẽ hiểu lời nói này là sự tấn công chớp nhoáng bất thần của Pháp đã không cho phép ông thực hiện một cuộc rút lui như viện Cơ mật đã trình lên Vua và gởi cho ông nhiều lần là: “cho quan kinh lược không đánh nhau với quân Pháp, tự phải rút lui, việc đã là rõ ràng, thì lấy ngay việc ấy cũng đủ làm cớ nói, nếu người Pháp bức lấy tỉnh Vĩnh Long thì hãy còn 2 tỉnh An Giang và Hà Tiên, có thể dời đóng, hoặc bị người Pháp bức lấy cả, thì tất phải chuyển về Bình Thuận, để đợi lệnh triều đình, đến khi ấy sĩ dân sáu tỉnh tức giận nổi lên, bấy giờ ta sẽ tùy cơ định liệu, lũ tôi nghĩ đi nghĩ lại, sự thể đến thế, tưởng phải nên như thế.”  Phan kinh lược  đã nhận thấy rằng minh đã không làm được như vậy để vớt vát  thể thống cho Vua, vì đã thực hiện kế hoạch như là một cuộc đầu hàng vô điều kiện, với kho tàng, khí giới và hồ sơ giấy tờ, sổ sách  bị Pháp chiếm đoạt tất cả.  Ông cũng sợ rằng sự tạm sống của mình sẽ gây khó khăn lớn cho Vua trong việc phải xử tội ông như thế nào mà mật kế bỏ đất miền Tây khỏi bị tiết lộ, làm mất uy tín của Vua.  Ông vẫn tỏ ra tin tưởng ở tương lai của nước nhà nhờ ở tài năng, đức độ và sự cố gắng, hy sinh của Vua và các quan đồng nghiệp đã từng cùng mình bàn định kế hoạch giữ nước, và vô cùng mong muốn về với họ: “Hoàng thượng rộng biết xưa nay, xét kỹ trị loạn, thân công hiền thần trong ngoài cùng lòng giúp đỡ, kính cẩn trời phật, vỗ thương dân nghèo, lo trước tính sau, thay đổi đường lối, thế lực vẫn còn có thể làm được, tôi đến lúc sắp chết, nghẹn lời không biết nói gì, chỉ ứa nước mắt trông về kinh mà mến tiếc mong muốn vô cùng mà thôi.” Chỉ có bấy nhiêu thôi, tuyệt đối không có một lời oán trách, than vãn, tụ biện hộ về những việc mình không muốn làm mà buộc phải làm, cái vai trò mà mình không muốn đóng mà vẫn phải đóng vì quyền lợi chung của đất nước, nhưng đã gây cho chính bản thân mình biết bao là tai tiếng oan nghiệt, bán nước, theo Pháp, “mại quốc”, “khi dân” , Cái chết sẽ rửa oan, phục hồi danh dự, khí tiết cho mình, vì một người đã không sợ chết, đã dám hy sinh thân mình cho vua, cho nước không thể là một kẻ tiểu nhân theo giặc được..

  1. Những hình phạt chiếu lệ của vua Tụ Đức “để răn về sau”

Ít lâu sau khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây, Án sát Nguyễn Thông, một quan “chủ chiến” uy tín, dâng sớ xin vua Tự Đức truy thưởng cho Phan liệt sĩ vì đã có phẩm hạnh cao quí và hành động hào hùng. Nhận được  sớ này, Vua sợ mật kế bị tiết lộ nên vào tháng 3, 1868, ra dụ giải thích tại sao ngài phải trừng phạt cố Kinh lược họ Phan mặc dầu ngài rất quí trọng ông ta: “Trẫm tuyệt đối công nhận rằng Phan Thanh Giản, do sự thông hiểu thấu triệt mọi sự việc và đạo đức hoàn toàn của y, đã làm gương mẫu cho các công bộc khác, y đã chứng tỏ lòng trung nghĩa, thành thật, sự liêm khiết và cần mẫn trong sự thi hành công vụ mà y đã dành hết tâm lực vào và trẫm quí mến y rất nhiều  {về tất cả những tính nết ấy của y}.”  Rồi Vua tìm ra những lý do để trừng phạt Phan tiên sinh: “Tuy vậy, y thiếu tài năng đến nỗi đặt mình vào thế không thể nào đương đầu với các biến cố và tìm được phương cách đối phó với chúng.  Hơn nữa, y có khuyết điểm là thiên vị, cố chấpthiếu độ lượng.  Do đó, vì không xứng đáng được giữ một địa vị quá cao như thế, y đã vấp sẩy trong những công trình lớn lao mà y điều khiển.”

Những khuyết điểm này chẳng có ai tránh khỏi như 32 vị dại quan, sau khi làm xong bản cáo trạng buộc tội các quan đã để mất miền Tây,  đã xin Vua trừng phạt chính mình về những tội lỗi tương tự: “từ 5 hay 6 năm qua, tình hình ở Nam Kỳ gây ra nhiều mối lo âu cho Hoàng Thượng   . . .  chúng thần đã bao lần nhận được mệnh lệnh của Bệ hạ chỉ thị cho chúng thần tận lực cố gắng hết sức để cứu chữa tình trạng ấy, nhưng than ôi, vì không thể đo lường, châm chước được thời cơ, chúng thần đã không chuẩn bị sự phòng thủ một cách thắng lợi khiến cho tình hình mỗi ngày mỗi thêm trầm trọng và đất nước đã gặp phải kết quả đau buồn này.  Chúng thần cuối xin Bệ hạ trừng phạt chúng thần về lỗi lầm này.”  Số 32 đại quan này gồm đủ cả những phần tử “chủ chiến”, Nguyễn Tri Phương, Võ Trọng Bình, cũng như “chủ hòa”, Đoàn Thọ, Trần Tiễn Thành.  Sau cùng, vào cuối 1868, một dụ đã duyệt xét công tội của mổi đại quan trong đó có đoạn nói về Phan tiên sinh như sau: “Nguyên Hiệp biện đại học sĩ lãnh kinh lược sứ Phan Thanh Giản trước đã cùng Lâm Duy Thiếp sơ xuất định hòa ước đem 3 tỉnh Định – Biên – Tường khinh thường cho người; đi sứ lại không được việc.  Sau sung kinh lược sứ lại để lỡ cơ hội nên các tỉnh Long – Giang – Hà đều mất, 2 tội đều nặng cả, tuy sau khi việc đã rồi xét phải tội chết chưa đủ che được tội.  Vậy Phan Thanh Giản cho cùng với Lâm Duy Thiếp đã quá cố đều truy đoạt chức hàm, và đẻo bỏ tên ở bia tiến sĩ, để mãi cái án trảm giam hậuGiết kẻ đã chết để răn về sau.”  Cuối cùng, Vua tự trách mình nhận cái lỗi to lờn nhất về phần mình và kêu gọi cùng nhau tự xét, tranh đấu lấy lại phần đất đã mất. Những hình phạt nói trên của Phan liệt sĩ đã được tuyên sau khi ngài đã tuẩn tiết, và sẽ đựơc miễn khi có cơ hội, vào 1886, dưới thời vua Đồng Khánh.

  1. Kết luận

Tóm lại, vua quan nhà Nguyễn đã cùng nhau cố gắng hết mình để thực hiện cái lý tưởng của người trượng phu của nền văn hóa Việt Nam là phục vụ cho dân cho nước, bất kể đến bản thân mình.  Sụ tử tiết của liệt sĩ Phan Thanh Giản đã giải oan cho ngài rồi, tưởng không cần đợi đến 500 năm sau.  Đã có người địch thủ Pháp của ngài là Ô. Vial, người đã đòi Triều đình giao luôn các tỉnh miền tây Nam Kỳ, luận về cái chết đó như sau:

Đó là nền đạo lý chính thức của Đông Phương, để bảo toàn cho lòng tự ái của vị quân vương, người làm quan, khi đã gánh chịu một sự thất bại, được xem như là phạm tội và luôn luôn bị trừng phạt nghiêm khắc, ngay cả khi ông ta đã tuân hành các chỉ thị một cách đúng đắn và thi hành nhiệm vụ của mình một cách tận tâm.  Chuyện hiển nhiên là Phan Thanh Giản và các người dưới quyền đã có nhận được lệnh là không nên áp dụng một cuộc chống cự công khai có thể sẽ đưa đến một cuộc đổ máu vô ích, mà họ cũng sẽ không giữ dược các tỉnh của mình . . . Tất cả trách nhiệm về các biến cố đổ vào đầu họ.  Lý lẽ riêng của quốc gia muốn như thế.,

Phan Thanh Giản, 71 tuổi, suốt một cuộc đời hoạn lộ dài đã giữ những chức vụ cao cấp nhứt và khó khăn nhất với một lòng bất vụ lợi tuyệt đối, không thuộc loại người để chịu dựng những chỉ trích sỉ nhục, mà các địch thủ chính trị của ông đã rao ra chống hại danh dự của ông.

Chết để bảo vệ khí tiết cũng được Linh mục Cadière, chủ bút Tạp chí Đô thành Hiếu cổ nêu ra khi nói rằng: “Phó Vương Phan Thanh Giản đã tự ban cho mình cái chết bằng độc dược, hầu khỏi phải sống trong sự ô danh phản chiếu vào mình.” Tác giả Nhựt, Yoshiharu Tsuboi, đã dựa theo lý thuyết Nho giáo để mô tả tội phạm của Phan liệt sĩ như sau:

Mặc dầu Phan Thanh Giản không hề vượt quá chỉ thị, ông nhận một sự khiển trách chiếu lệ, tuyệt đối không có tính cách hình sự mà chỉ về phương diện hành chánh, khá nghiêm khắc, hầu để tỏ ra rằng ông ta chịu hoàn toàn trách nhệm về sự ký kết cái hiệp ước nhục nhã.  Quả nhiên theo những quan niệm chính trị bắt nguồn từ Khổng giáo, nhà vua là “Con của Trời” cho đến lúc nào Trời thu hồi lại sự ủy quyền của mình, người ta cho rằng, để bảo vệ cho sự bất khả khiếm khuyết của vị vua mỗi một khi có một biến cố quan trọng xảy ra, thì một người nào đó trong giới thân cận, thường thường là một đại quan liên hệ đến vấn đề, sẽ là tội nhân.

(Bí chú: Về thư tịch và chú thích xuất xứ nguồn tin,, xin xem cuốn sách, do tác giả tự xuất bản năm 2016, Nguyễn Văn Tường [1824-1886] và cuộc chiến chống đô hộ Pháp của nhà Nguyễn, trong đó có khoảng 100 trang liên quan đến nhân vật Phan Thanh Giản. Sách gồm 2 tập, khoảng 1500 trang khổ lớn, trên 4500 chú thích, nặng 3 ký, giá US$100 [kể cả tiền gởi, ngoài Mỹ, thêm $20 tiền gởi. Địa chỉ liên lạc: Nguyễn Quốc Trị, 301-963.1159; ngqtri@verizon.net; hoặc, Nguyễn Văn Toại, 301-320.1221, nvantoai@yahoo.com )