Tấm gương sáng cho hậu thế

Tưởng niệm Kinh lược sứ Phan Thanh Giản:
Tấm gương sáng cho hậu thế

 

Huỳnh Long Vân Ph.D

 

Kính thưa
Quý vị hậu duệ của cụ Phan Thanh Giản
Toàn thể quý quan khách và Ban tổ chức
Trước hết tôi xin lỗi vì lý do ngoài ý muốn nên rất tiếc không thể sang tham dự buổi lễ tưởng niệm 150 năm cụ Phan Thanh Giản tuẩn tiết. Tôi thành thật cám ơn ban tổ chức đã tạo điều kiện để tôi có thể tham gia vào phần thuyết trình và thảo luận trong buổi lễ ngày hôm nay.

Kính thưa quý vị

Phan Thanh Giản sinh năm 1796 mất năm 1867, quê quán tại xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri. Ông là một danh nhân của vùng đất Bến Tre. Cuộc đời ông là những ngày tháng trắc trở, gian truân từ lúc sinh ra cho đến cuối đời. Ông là vị Tiến sĩ Nho học đầu tiên của đất Nam kỳ, phụng sự 3 triều vua: Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.

41 năm (1826 đến 1867) cụ Phan Thanh Giản phụng sự đất nước và dân tộc là thời điểm của cao trào chủ nghĩa thực dân và ngoại giao bằng tàu chiến và súng đạn. Các nước phương Tây như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hoà Lan, Anh, Pháp, Ý, Hoa Kỳ  sau cuộc ‘Cách mạng Kỹ nghệ’ thành công đã đua nhau tràn sang Châu Á tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng hóa, chiếm cứ đất đai để khai thác tài nguyên bản địa phục vụ cho nền kỹ nghệ chính quốc. Ba chử G “God, Gold, and Glory” (Thượng Đế, Vàng và Vinh Quang) hàm chứa trọn vẹn âm mưu, tham vọng, và lý do xâm lược đề làm bá chủ của họ và tự do truyền đạo.
Bi kịch cuối đời của cụ Phan gắn liền với giai đoạn các tỉnh Nam kỳ bị thực dân Pháp xâm chiếm (1862-1867), mà đỉnh điểm là việc ba tỉnh miền Tây Nam kỳ gồm Vĩnh Long, An Giang, và Hà Tiên lọt vào tay quân xâm lăng Pháp lúc ông đang được giao trọng trách Kinh lược sứ trấn giữ các tỉnh này. Thành mất, cụ Phan Thanh Giản đã chọn cho mình cái chết như một vị tướng trung liệt.

Nhắc đến cái chết của cụ Phan khiến tôi bùi ngùi xúc động nhớ lại hình ảnh bà nội tôi 70 năm về trước, lau chùi nước mắt mỗi khi nghe bộ đỉa hát “Phan Thanh Giản tuẩn tiết”. Hỏi sao lại khóc, bà lặng lẽ trả lời: “Tội nghiệp Ông Cố quá”. Thực hư ra sao và gần xa thế nào của mối liên hệ này thật tình tôi không rõ, tuy nhiên có một sự ngẩu nhiên đầy thích thú  là tên họ Phan Thanh Giản ít nhiều đánh dấu từng giai đoạn của cuộc đời tôi: thời thơ ấu học trường làng và ở chung nhà với người Bà, thỉnh thoảng mở “dàn máy hát” để Bà nghe lại cuộc đời cụ Phan; lên trung học xuống Cần Thơ mỗi ngày theo đường Phan Thanh Giản cấp sách đến trường Trung học Phan Thanh Giản; vào đại học yêu cô nữ sinh viên Kim Chung học cùng phân khoa Dược và cô ta, nay là hiền thê của tôi,  ở trọ trong căn nhà ở đường Phan Thanh  Giản; tốt nghiệp đại học được trưng tập vào binh chủng quân y, phục vụ nhiều năm trong  một bệnh viện có tên Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ, một đơn vị chửa trị thương bệnh binh quân lực Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu để gìn giữ an ninh lãnh thổ miền Tây Nam phần Viêt Nam. Sau ngày 30/04/1975 tên tuổi Phan Thanh Giản ở mọi nơi đều bị xóa mất, nhưng sợi dây vô hình liên kết đời tôi với cụ Phan vẫn không bị đứt đoạn, vì hình ảnh và công đạo của cụ được gói gém trọn vẹn trong nguyện  vọng của tôi, tha thiết mong thấy danh dự cụ được phục hồi và đây là một phần của đề tài

 

Tưởng niệm Kinh lược sứ  Phan Thanh Giản:
Tấm gương sáng cho hậu thế

 

trình bày, trong buổi lễ tưởng niệm 150 năm cụ Phan Thanh Giản tuẩn tiết tổ chức tại Việt Việt Học ở California, Hoa Kỳ, với 4 phần chánh sau đây:

  • Mất 6 tỉnh Nam kỳ và những chánh sách sai lầm của vua Tự Đức và Triều đình Huế
  • Xử trảm hậu cụ Phan: Bản án bất công và oan nghiệt
  • Cần Thơ với nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản
  • Nhân phẩm Phan Thanh Giản và những bài học cho các thế hệ sau

1.       Mất 6 tỉnh Nam kỳ vào tay quân Pháp và những chánh sách sai lầm của vua Tự Đức và Triều đình Huế

Triều Nguyễn có những đóng góp to lớn vào việc thống nhứt đất nước, mở rộng bờ cỏi, nhưng cũng chính trong triều đại này, đặc biệt dưới thời vua Tự Đức, Việt Nam bị thực dân Pháp thôn tính, trước tiên là 6 tỉnh Nam kỳ. Nguyên nhân của việc mất nước, tuy có nhiều nhận định khác nhau nhưng các học giả và các nhà sử học đều đồng ý ở một điểm: nhà Nguyễn đã thi hành môt số chánh sách sai lầm, tai hại nhứt là ‘bế quan tỏa cảng và “cấm đạo, sát đạo”.

Lỗi lầm này rất hiển nhiên khi chúng ta so sánh những chánh sách ngoại giao, ngoại thương của Nhật Bản, Thái Lan với những đường lối điều hành việc nước của Trung Quốc và Việt Nam vào giữa thế kỷ thứ XIX trước làn sóng xâm lăng của Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Y Pha Nho v.v..

1.1   Nhật Bản

Vào tháng 8 năm 1853, đề đốc Matthew Perry của hải quân Hoa Kỳ với 4 hắc thuyền tiến vào vịnh Edo mang thư của Tổng Thống Millard Fillmore, yêu cầu Nhật Bản mở cửa giao thương và hẹn một năm sau sẽ trở lại để nhận trả lời từ phía Nhật Bản. Khi chiến hạm ra đi họ nổ súng rầm trời với đạn mã tử bắn từ 73 khẩu súng thần công để thị oai. Không đợi đến một năm, mà sáu tháng sau đề đốc Perry đã hối hả trở lại với 10 chiến thuyền và 1600 binh sĩ để làm áp lực và một hiệp ước thuộc loại bất bình đẳng được ký kết giữa chánh quyền Mạc phủ của Nhật Bản và Hoa Kỳ, mở cửa cho hai nước, và sau đó với các quốc gia phương Tây khác, giao thương. Qua hiệp ước này Nhật Bản thấy được sự yếu kém của mình nên nhanh chóng tiến hành canh tân xứ sở, tiếp thu toàn diện văn minh thế giới phương Tây và sau 15 năm từ một đất nước phong kiến Nhật Bản tiến lên hàng cường quốc, bảo toàn được xứ sở khỏi cao trào xâm lăng của phương Tây.

1.2   Thái Lan

Vào năm 1855, khi Ông John Bowring, Thống đốc Hồng Kông, xuất hiện trên một chiến hạm ở cửa sông Chao Phraya, Hoàng đế Mongkut (Rami IV) nhanh chóng ký Hiệp ước Bowring, hủy bỏ độc quyền thương mại của nhà vua, bải bỏ thuế nhập khẩu, tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc buôn bán của Anh Quốc ở Thái Lan. Những hiệp ước tương tự cũng được ký với nước Phổ (Đức) vào năm 1862, với Áo và Hung Gia Lợi vào năm 1869. Ký các hiệp ước bất bình đẳng này, hoàng gia mất đi phần lớn nguồn lợi tức có từ lâu đời nhưng ngược lại giúp Thái Lan hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, biến Thái Lan trở thành một trung tâm đầu tư và một thị trường tiêu thụ hàng hóa của phương Tây. Mặt khác sản phẩm của Thái Lan như gạo, khoáng sản, và gổ liêm cũng được nhà vua cho phép xuất khẩu sang phương Tây. Sau đó vua Mongkut tiến hành canh tân xứ sở, xây dựng đường xá, đào kinh, cải cách nông nghiệp gia tăng diện tích đất canh tác và cho người Hoa nhập cư để gia tăng sản xuất nông nghiệp, giúp Thái Lan trở nên phổn thịnh. Vua Mongkut (Rama IV) và người kế vị là vua Chulalongkorn (Rama V), ứng dụng những phát minh khoa học của phương Tây để phát triển quốc phòng, học hỏi những kiến thức tân tiến ngay cả với những thừa sai thay vì sát hại họ, giao thiệp với Tòa thánh Vatican và các lãnh đạo phương Tây, áp dụng đường lối ngoại giao khôn khéo biến Thái Lan thành vùng trái độn, ngăn chận được ý đồ xâm lăng của Pháp và Anh quốc.

Nhật Bản và Thái Lan mở cửa , Trung Hoa và Việt Nam phản ứng thế nào?

1.3   Trung Quốc

Trong khi đó với Trung Quốc  thì hoàn tòan trái ngược; trước đòi hỏi của chính phủ Anh được quyền tự do buôn bán nha phiến từ Ấn Độ thuộc Anh, nhà Mãn Thanh tuyệt đối nghiêm cấm, từ đó xảy ra hai cuộc chiến tranh Nha phiến giữa Trung Quốc và  Anh quốc; kết quả Trung Quốc thảm bại nên phải công nhận thương quyền buôn nha phiến của ngoại quốc và phải ký nhiều hiệp ước bất bình đẳng, mở nhiều cảng cho các nước ngoài vào thông thương. Hồng Kông bị cắt làm nhượng địa cho Anh quốc, Ma Cao trở thành thuộc địa của Bồ Đào Nha. Nhiều nước khác như Đức, Pháp, Nhật, Nga…theo chân nước Anh buộc Trung Hoa phải chấp nhận nhiều điều kiện bất bình đẳng. Với hiệp ước Hoàng Phố 1844, Pháp chánh thức đặt chân lên lãnh địa Trung Hoa. Ở phía Bắc, năm 1850 quân đội Nga Hoàng tràn xuống Hắc Long Giang chiếm đóng Mãn Châu.

1.4   Việt Nam

1.4.1       Vương triều Nguyễn và vua Tự Đức

Từ lâu đời là một chư hầu của Trung Quốc, nên trong điều hành quốc sự, vua quan Việt Nam rập khuôn theo nhà nước phong kiến ở phương Bắc và trước áp lực xâm lăng của ngoại bang vào giữa thế kỷ XIX đã áp dụng chánh sách bế quan tỏa cảng và cấm đạo.

Vua Gia Long đã nhiều lần từ chối người Anh đến xin được mua bán và ngay cả người Pháp việc mua bán cũng không được thuận lợi. Gia Long và Minh Mạng đã khước từ tổng cộng 30 đoàn ngoại giao và ngoại thương phương Tây muốn đặt quan hệ với Việt Nam. Chánh sách bế quan tỏa cảng làm cho Việt Nam cô lập với thế giới bên ngoài và công thương nghiệp bị đình đốn nghiêm trọng.

Nhằm đề phòng và ngăn chặn sự mở rộng truyền bá đạo Thiên Chúa ở trong nước, vua Minh Mạng cho ban hành các chỉ dụ cấm đạo, truy nã ráo riết các thừa sai, điều này đã dẫn tới một hậu quả là máu của các thừa sai và giáo dân đã đổ. Đến thời Tự Đức, việc cấm đạo càng gắt gao hơn, nhằm mục đích tận diệt Thiên Chúa giáo ở Việt Nam khiến các thừa sai phải kêu gọi chánh phủ Pháp can thiệp vào Việt Nam để giải cứu người theo Thiên Chúa giáo.

Ngoài hai chánh sách đầy lỗi lầm trên, dưới thời triều Nguyễn tuy “trọng nông ức thương” nhưng nông dân vẫn bị bốc lột. Dân chúng khổ sở nên có hàng trăm cuộc nổi dậy từ Bắc chí Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, nổi bật hơn cả là các cuộc khởi nghĩa của Phan Bá Vành, Nông Văn Vân, Lê Văn Khôi, Cao Bá Quát. Trong khi xã hội trở nên bất ổn vua Tự Đức cho xây thành ‘Vạn Niên Cơ’ tức Khiêm Lăng. Công việc sưu dịch xây lăng quá cực khổ, lại bị quan lại đánh đập tàn nhẫn, dẫn đến cuộc nổi loạn Chày Vôi của dân phu xây lăng.

Mặt khác vốn bị ảnh hưởng nặng nề của  tư  tưởng Nho giáo, triều đình nhà  Nguyễn từ  Minh Mạng trở  đi, đặc biệt dưới  thời vua Tự  Đức lấy Tứ Thư, Ngũ Kinh làm mẫu mực, rất chú  trọng đến văn chương thi phú, và  xao lãng về  quân sự  và  quốc phòng. Vũ khí và trang thiết bị không được tân trang. Trang bị bộ binh rất lạc hậu: đa phần là gươm và giáo, 10 người mới có 1 khẩu súng, mỗi năm chỉ tập bắn 1 lần 6 viên đạn. Súng thần công được bố trí không để phát huy hỏa lực mà là để tránh khỏi bị nước mưa làm hư hại. Thủy binh không có đủ khả năng để bảo vệ bờ biển chống hải tặc. Việc giảng dạy binh pháp không chú trọng tới sách vở phương Tây mà quay trở về với binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo.
(Còn về)

1.4.2        Triều thần

Đám quần thần cũng giam mình trong những giáo lý đã chết cứng của Thánh hiền nên rất bảo thủ, vẫn nghĩ phương Tây kém văn minh không đáng tin cậy nên quay lưng lại mọi trào lưu tiến hóa trên thế giới, khước từ mọi đề nghị cải cách đất nước của từng lớp trí thức yêu nước cấp tiến và không noi theo gương Nhật Bản, Tháí Lan đã khôn ngoan tiếp đón Tây Phương, học hỏi những tiến bộ về  khoa học kỹ thuật để canh tân xứ sở và tránh được ngoại xâm.

Gõ cửa yêu cầu được tự do truyền đạo và buôn bán nhưng bị làm ngơ nên nhiều cuộc tấn công của hải quân Pháp vào Việt Nam đã diễn ra, mở đầu  bằng cuộc bắn phá cửa biển Đà Nẵng năm 1856.

  • Từ năm 1858 đến 1861 quân Pháp nhiều lần tiến đánh Đà Nẳng và Gia Định và quân ta thảm bại trên khắp mặt trận, nhưng triều đình Huế vẫn tiếp tục bác bỏ những yêu cầu của Pháp và Y Pha Nho được tự do truyền đạo và giao thương.
  • Từ tháng 02/1861 đến tháng 03/1862 quân Pháp lần lượt đánh chiếm Gia Định, Định Tường, Biên Hòa, Bà Rịa và Vĩnh Long.

Tiếp đến Pháp dùng tàu chiến phong tỏa đường biển, chận nguồn tiếp tế lương thực từ đồng bằng sông Cửu Long ra Phú Xuân khiến triều đình Huế bị “chết nghẻn”. Bó tay nên vào tháng 04/1862 vua Tự Đức đề nghị xin mở cuộc hoà đàm và chấp nhận những điều kiện tiên quyết của Pháp đưa ra. Và đến đây vua quan triều Nguyễn giao phó sứ mạng nặng ngàn cân này cho Phan Thanh Giản.

1.4.3        Phan Thanh Giản và sứ mạng cứu vãn tình thế tuyệt vọng của đất nước

  1. Hòa ước Nhâm Tuất 1862

Phan Thanh Giản được vua Tự Đức cử làm Chánh sứ toàn quyền đại thần và Lâm Duy Thiếp làm Phó sứ để đám phán với Pháp. Sau 4 ngày thương thuyết từ 30/05/1862 đến 02/06/1862  Việt Nam đồng ý nhường Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và  Côn Đảo; bồi thường chiến phí 4 triệu đồng bạc trả trong 10 năm, và chấp thuận cho người Pháp và Y Pha Nho được quyền tự do truyền đạo và buôn bán.

  1. Đi sứ sang Pháp năm 1863 để chuộc 3 tỉnh miền Đông

Mặc dù Hòa ước Nhâm Tuất 1862 được vua Tự Đức phê chuẩn nhưng nhà vua vẫn lo lắng tìm cách chuộc lại phần đất đã mất. Điều đình với soái phủ Pháp ở Sài Gòn thất bại, nên triều đình Huế quyết định gởi sứ bộ sang Pháp và Y Pha Nho để thương thuyết. Phan Thanh Giản được cử làm Chánh sứ và Phạm Phú Thứ làm Phó sứ.

Ở Paris Phan Thanh Giản đã trình lên Hoàng đế  Napoleon III mục đích của sứ bộ là xin chuộc 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ. Vào ngày 17/07/1864, Aubaret  đại diện cho Pháp tới Huế ký với Phan Thanh Giản một hòa ước mới, trong đó Pháp sẽ trả 3 tỉnh miền Đông cho Việt Nam.

Nhưng các tướng tá từng chỉ huy các trận chiến ở Việt Nam kịch liệt phản đối. Bộ Trưởng Hải quân và Thuộc địa, Chasseloup Laubat, khuyến nghị giữ nguyên Hòa ước 1862 nếu không sẽ từ chức. Vì thế Napoleon phải nhượng bộ và việc chuộc lại 3 tỉnh miền Đông bất thành. Sứ mạng không thành vì sự thắng thế của phe chủ chiến của Pháp chứ không phải vì cụ Phan không hết lòng.

  1. Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây và Phan Thanh Giản tuẩn tiết

Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa Chasseloup Laubat khẳng định: chiếm luôn các tỉnh miền Tây sẽ giúp ổn định toàn bộ Nam kỳ và mở đường sang Cao Miên, nên đầu năm 1867 quân Pháp đã làm xong kế hoạch, lập 8 Thanh tra tòa cho 3 tỉnh và bố trí nhân sự để chờ lệnh đến nơi làm việc. Ngày 15/06/1867 De la Grandière rời Sài Gòn xuống Vĩnh Long với 17 chiến hạm. Nửa đêm 19/06/1867 hạm đội tới Vĩnh Long và  sáng hôm sau ra lệnh cho Phan Thanh Giản phải nộp thành trong vòng 2 tiếng đồng hồ với lý do Pháp cần chiếm 3 tỉnh miền Tây để chấm dứt “phiến loạn” và “giặc cướp” mà triều đình bất lực trong việc ngăn chận. Nghĩ rằng đụng độ tại chỗ với Pháp đầy vũ khí tối tân là vô ích, chỉ làm tổn hại thêm quân lính, cụ Phan Thanh Giản ra lệnh không cho đánh trả. Pháp chiếm Vĩnh Long và trong các ngày sau đó thôn tính luôn hai thành An Giang và Hà Tiên.

Mất thành Vĩnh Long, cụ Phan Thanh Giản sau 15 ngày tuyệt thực không chết, quyết định uống thuốc độc chấm dứt cuộc đời.

2.       Xử trảm hậu cụ Phan Thanh Giản: Bản án bất công và oan nghiệt

Sau khi mất 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ, ngày 24/10/1867 vua Tự Đức xuống chiếu truyền truy cứu trách nhiệm của tất cả những quan chức liên quan đến việc làm mất sáu tỉnh Nam kỳ. Đầu năm 1869, nhà vua cho công bố bản án kết tội Phan Thanh Giản có trách nhiệm trong việc để mất sáu tỉnh Nam kỳ vào tay giặc Pháp: ba tỉnh miền Đông vì mất cảnh giác và lơ là trong việc thương thuyết với  Pháp, ba tỉnh miền Tây vì không nắm được thời cơ. Với tội danh này, tên tuổi Phan Thanh Giản bị đục khỏi bia tiến sĩ, và mặc dầu đã chết vẫn cứ bị kêu án chặt đầu, xem như  là lời cảnh cáo đối với các thế hệ sau.

Thử hỏi phán quyết này có đúng không?

Phan Thanh Giản được triều đình giao phó sứ mạng hòa đàm với Pháp, và cụ Phan ký Hòa ước Nhâm Tuất 1862 nhường 3 tỉnh miền Đông. Việc làm này của cụ xét ra đúng với thẩm định của vua Tự Đức và triều đình; vì trước  đó khi cử Phan Thanh Giản làm Chánh sứ toàn quyền đại thần vua tôi đã bàn định kỹ các khả năng, giải pháp  kể cả việc “cắt đất”: “Kẻ kia (Charner) trước có xin giao hết cả tỉnh thành và đất phụ thuộc của Gia Định, Định Tường và đóng quân ở Thủ Dầu Một, Biên Hòa. Nay bọn kia tất không khỏi cố ý yêu cầu cắt đất Biên Hòa, Vĩnh Long giao cho họ để mong cho hòa ước cũ tất phải thành. Nay vâng xét nghĩ: ở Gia Định từ thành cũ, kẻ kia đã lập đồn để đóng và địa giới ở ven sông hai huyện Tân An, Cửa An thuộc hạt ấy, một số vùng ở Thủ Dầu Một, Biên Hòa và đất phụ cận ở ngoài thành tỉnh Định Tường, nghĩ hãy tạm cho bọn kia quản nhận cư trú; còn điạ phận các hạt khác cùng là toàn hạt tỉnh Vĩnh Long, đều nên giao trả về nước ta quản trị…”

Ngoài ra nếu Phan Thanh Giản ký hòa ước nhượng đất cho Pháp trái ý vua thì tại sao Tự Đức tiếp tục giao phó nhiều trọng trách giao thiệp với Pháp và năm 1863 chính vua Tự Đức đã phê chuẩn hòa ước, làm lễ đại triều ở điện Thái Hòa tiếp sứ thần hai nước Pháp, Y Pha Nho để trao đổi văn bản hòa ước.

Dẩu sao trong Hòa ước Nhâm Tuất 1862, cụ Phan đã đòi lại được tỉnh Vĩnh Long và trong cái thế chiến trường tan nát ấy, việc dành lại được một tỉnh cũng là một thắng lợi, tuy khiêm nhượng;  đúng ra phải được ghi công hơn là bắt tội. Vì thế việc vua Tự Đức kết tội cụ Phan “đem 3 tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Định Tường cho người khác một cách dễ dàng”  là điều không hợp lý và oan nghiệt.

Về việc mất 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ, những văn bản của triều đình còn lưu lại cho thấy khi  nhận được mật tin  quân Pháp  muốn chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ vua Tự Đức và triều đình thấy “thế đất (miền Tây) cheo leo, muốn giữ cho không lấn cũng khó” nên đưa cụ Phan Thanh Giản vào Nam, không để chuẩn bị đánh nhau với quân Pháp, mà là hy vọng vào uy tín và tài ngoại giao của cụ để thuyết phục quân Pháp nghiêm chỉnh thi hành Hòa ước Nhâm Tuất 1862. Là  một nhà  thâm Nho nên nghĩ rằng không phải vũ lực mà nhân, nghĩa, lễ, trí, tín mới đáng sợ nên khi giao cho cụ Phan Thanh Giản trọng trách này vua Tự Đức dặn dò như sau “Lấy trung tín làm đầu thì cọp dữ cũng phải tránh qua; con cá sấu hung bạo cũng bơi xa. Mọi người đều phải nghe theo điều nhân nghĩa”. Những chủ trương, và suy nghĩ của triều đình như thế ắt dẫn đến hậu quả tất nhiên là không thể nào giữ được ba tỉnh miền Tây và giả sử vua Tự Đức có cử bất cứ nhà ngoại giao nào thì chắc chắn cũng không thuyết phục được Pháp từ bỏ ý đồ chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ.
Chúng ta là những chứng nhân của lịch sử Việt Nam thời cận đại, hẳn không quên 2 sự kiện lịch sử quan trọng: Hiệp định Paris 1973 và biến cố lịch sử ngày 30/04/1975.
Ký hiệp định Paris 1973 dẫn đến sự sụp đổ toàn diện của chánh thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nhận lãnh trách nhiệm này. Hai Ông Ngoại trưởng Phạm Đăng Lâm và Trần Văn Lắm lần lượt là Trưởng phái đoàn đàm phán của VNCH  không hề bị khiển trách, và sau này được đề cử và tín nhiệm vào những chức vụ quan trọng khác: một Ông được bổ nhiệm Đại sứ VN tại Anh Quốc và một vị được bầu vào chức vụ Chủ tịch Thượng Nghị viện. Trái lại trong Hoà ước Nhâm Tuất 1862, thay vì phải liên đới chịu trách nhiệm trước dân tộc vì đã áp dụng những chánh sách sai lầm trong việc giữ nước trước áp lực xâm lăng của quân Pháp, vua Tự Đức và triều đình lại tìm cách đổ trút tội lỗi lên vai vị Chánh sứ đại thần Phan Thanh Giản. Bất công nào bằng!
 Còn về việc mất 3 tỉnh miền Tây vào tay quân Pháp thì bi kịch lịch sử này đã tái diễn khi các tỉnh vùng Hậu Giang và phần còn lại của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tay quân đội Cộng sản Bắc Việt vào ngày 30/04/1975. Mặc dù sau đó có hàng trăm ngàn quân, cán, chánh Việt Nam Cộng Hòa phải bị tù đày và hơn triệu người bất chấp hiễm nguy bỏ xứ ra đi tìm tự do, nhưng hơn 40 năm trôi qua  không hề có một tập thể  hay phiên tòa nào kết án Tổng Thống Dương Văn Minh là hèn nhát, vì biết rằng quyết định của Ông ra lệnh cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa  buông súng là hành động thức thời trước tình thế tuyệt vọng; và thật sự quyết định này đã tránh được những đổ nát và chết chóc vô ích. Cán cân quân sự vào thời điểm 1975 nghiên hẳn vế phía lực lượng Cộng sản Bắc Việt và đó cũng là tình huống mà cụ Phan Thanh Giản đã gặp phải trước sức mạnh xâm lăng của quân đội Pháp có nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh tối tân, và lối đánh chưa từng có trong binh thư phương Đông. Để tránh những tổn hại sinh mạng, Kinh lược sứ Phan Thanh Giản đã không đối đầu với quân Pháp.
Công lý nào có thể biện hộ cho phán quyết bất công đối với vị Đại thần suốt đời yêu nước thương dân? Phải chăng xử trảm hậu cụ Phan là chuyện“ Trăm dâu đổ đầu tầm” cốt để gở tội cho vua Tự Đức và đám triều thần bảo thủ đã thi hành những chánh sách sai lầm trước âm mưu xâm lăng của thực dân Pháp.

3.       Cần Thơ với nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản

Năm 1885, vua Đồng Khánh xóa án trảm hậu và khôi phục hàm cũ là Hiệp tá Đại học sĩ cho cụ Phan, nhưng oan nghiệt vẫn tiếp tục bám riết cụ. 96 năm sau ngày tuẫn tiết vẫn không được nằm yên dưới đáy mồ, vì trong cuộc hội thảo lịch sử được tổ chức tại Hà Nội năm 1963, dưới sự chỉ đạo của Ông Trần Huy Liệu, cụ Phan Thanh Giản lại bị lôi ra tòa và bị kết án là kẻ hèn nhát dâng thành cho giặc Pháp, tên bán nước. Chính vì bản chất chánh trị hóa lịch sử và thóa mạ này mà sau ngày 30/4/1975 ở miền Nam Việt Nam có những chỉ thị và hành động thất nhân tâm đối với cụ Phan – nào là bức tượng cụ Phan ở Văn Thánh Miếu Vĩnh Long vị bắn xuyên tim, bức tượng trước 1975 đặt tại trung tâm thị xã Bến Tre bị vùi lấp ở vũng lầy, bức tượng giữa sân trường Trung học Phan Thanh Giản Cần Thơ bị đập phá cùng với ngôi trường bị mất học hiệu, các con đường mang tên Phan Thanh Giản cũng bị thay tên – khiến quần chúng phẩn uất.

Trước những phê phán sai lầm này của giới sử học miền Bắc thời bấy giờ, đại diện người dân Cần Thơ là tập thể các cựu giáo sư và cựu học sinh trường Trung học Phan Thanh Giản Cần Thơ ở hải ngoại đã đồng hành với người dân hai tỉnh Vĩnh Long và Bến Tre tích cực vận động, kiên nhẩn đòi hỏi Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVH) phải trả lại công bằng cho vị Tiến sĩ Nho học đất Nam kỳ.

3.1   Cụ Phan Thanh Giản được lịch sử tôn vinh

Ngày 20/01/2008 Viện Sử học CHXHCNVN trong công văn số 16/VSH phúc đáp công văn số 04/DSVH-DT ngày 02/01/2008 của Cục Di sản Văn hóa về việc đánh giá sự nghiệp công lao đóng góp của cụ Phan Thanh Giản có ý kiến trả lời như sau:

“…….Về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, nhiều cuộc Hội thảo khoa học được tổ chức để đánh giá một cách khách quan về cuộc đời, sự nghiệp và những cống hiến của Ông đối với lịch sử dân tộc. Về cơ bản, các nhà sử học đánh giá cao về công lao của ông trên nhiều lĩnh vực chính trị, ngoại giao, văn hóa. Khi thực dân Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây (1867), Ông đã tuẩn tiết để giữ trọn chữ trung. Với nhận thức mới trên quan điểm lịch sử cụ thể, nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản xứng đáng được tôn vinh bằng nhiều hình thức khác nhau…..”

Viện Trưởng

PGS TS Nguyễn Văn Nhật

3.2   Tôn tạo các di tích cụ Phan

Dựa trên những kết luận đánh giá của Viện Sử học, ngày 24/01/2008 Cục Di sản Văn hóa đã có công văn cho phép tôn vinh Phan Thanh Giản và trên cơ sở đó kiểm kê các di tích liên quan đến nhân vật, lập kế họach tu bổ, tôn tạo.

Tháng 05/2008 GS Nguyễn Trung Quân và tôi đã về Việt Nam: ở Hà Nội chúng tôi tiếp xúc với TS Nguyễn Quốc Hùng, Cục Phó Thường trực, Cục Di sản Văn hóa, GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và nhà sử học Dương Trung Quốc, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký,  và ở Cần Thơ tham dự buổi họp đặc biệt của Hội đồng Nhân dân Thành phố Cần Thơ để thảo luận và triển khai công việc bảo tồn, tôn tạo các di tích cụ Phan trong đó có ngôi trường Trung học Phan Thanh Giản Cần Thơ.

Trước tin vui cụ Phan được lịch sử tôn vinh, tôi tham gia chương trình “Mỗi người một giọt đồng đúc tượng cho Danh nhân” do Tạp chí Xưa & Nay, Cơ quan ngôn luận của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, chủ trương để bảo tồn và tôn tạo các di tích Phan Thanh Giản.

  • Vào ngày 05/08/2008 tượng cụ Phan Thanh Giản do Ông Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ Tướng CHXHXNVN phụng hiến, đã được an vị ở Văn Thánh Miếu Vĩnh Long. Vì vừa từ Việt Nam trở về Sydney vào cuối tháng 5 nên tôi đã đề nghị Ban Tổ chức mời ba cựu giáo sư Lê Minh Thuận, Lê Văn Quới, Quách Thị Trang và ba cựu học sinh La Phú Xương, Huỳnh Phước Duyên, Hồ Trung Thành của trường Trung học Phan Thanh Giản Cần Thơ tham dự buổi lễ khánh tượng này.
  • Năm sau vào ngày 18/04/2009 tôi và Kim Chung về Việt Nam tham dự lễ an vị tượng cụ Phan – do chúng tôi phụng hiến – tổ chức tại trường Trung học Phan Thanh Giản ở quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
  • Đến ngày 26/08/2017 tới đây, thêm một tượng cụ Phan – cũng do chúng tôi phụng hiến – sẽ được an vị tại Ngôi Miếu thờ cụ Phan trong khuôn viên Lăng Đức Tả quân Lê Văn Duyệt, Sài Gòn; tôi và Kim Chung sẽ về Việt Nam tham dự buổi lễ này.

Xua & Nay ……..@yahoo.com>

5 Jun at 12:21 PM

To: Van Huynh

Message body

Chào anh Long Vân

Tôi vừa trao đổi với Ban Quý Tế Lăng Lê Văn Duyệt, được biết ngày giỗ lần thứ 150 cụ Phan Thanh Giản là ngày 26 tháng 8 năm 2017 (ngày 5 tháng 7 Âm lịch) , Ngày giỗ cụ Phan năm nay được tổ chức trang trọng vì là năm chẵn (150 năm) kết hợp với lại lễ an vị tượng cụ . Vậy thông tin để anh có kế hoạch về Việt Nam tham dự
Về dòng lạc khoảng để sau bức tượng có nội dung :

Chương trình “Mỗi người một giọt đồng đúc tượng Danh nhân”

Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam – Tạp chí Xưa và Nay chủ trương
Ông, bà Huỳnh Long Vân – Cựu học sinh Trường Phan Thanh Giản Cần Thơ
Phụng hiến

Chúc sức khỏe anh chị và gia đình

Kính

Nguyễn Hạnh

3.3   Bảo tồn kiến trúc trường Trung học Phan Thanh Giản Cần Thơ

Cần Thơ có ngôi trường lớn nhứt ở miền Hậu giang mang tên vị Kinh lược sứ, được xây vào năm 1917 nay đã hư hỏng xuống cấp không đảm bảo an toàn cho giảng dạy. Giới hữu trách của Thành Phố Cần Thơ sau nhiều lần họp bàn có quyết định đập bỏ xây mới hoàn toàn. Vì ngôi trường có giá trị lịch sử và được sự ủng hộ của giới sử học, Hội đồng Di sản Văn hóa, các giáo sư chuyên gia kiến trúc trong nước nên tôi đã đề nghị và được lãnh đạo Thành Phố Cần Thơ cứu xét chấp thuận để một dãy lầu được giữ nguyên và trùng tu. Hy vọng trong tương lai chúng ta sẽ nhìn thấy tên họ vị Tiến sĩ Nho học đất Nam kỳ ghi trong danh hiệu của di tích lịch sử này.

Tưởng niệm cụ Phan mà không nhắc đến nhân cách và lối sống của cụ là điều thiếu sót  lớn lao.

4.       Nhân phẩm Phan Thanh Giản và những bài học cho các thế hệ sau

Cụ Phan Thanh Giản có tính ngay thẳng cương trực, không phù hợp mấy với nếp truyền thống vua chúa thời phong kiến vì thế trong cuộc đời quan lộ có những bước thăng trầm: có lúc bị cách chức, bị giáng chức. Nhưng trong bất cứ cương vị nào ông cũng luôn luôn trung thành, mẫn cán, lo làm tròn sứ mạng phò vua, giúp nước. Ngoài tài năng, phẩm giá đáng quý, ở cụ Phan là tấm lòng yêu nước thương dân, và cuộc sống cần kiệm thanh bạch. Làm quan có lúc đến nhất phẩm triều đình, nhưng quyền lực và danh vọng không làm ông bị tha hóa như nhiều quan chức khác, trước sau ông vẫn giữ nhân cách cao đẹp của mình.

Những năm 1843, 1849, 1852, 1853, 1859 cụ Phan Thanh Giản dâng sớ lên vua Thiệu Trị  và  Tự  Đức nêu lên thực trạng của đất nước về kinh tế, xã hội và đề xuất yêu cầu “cải cách chốn quan trường”, “lựa người trung lương”, ”chỉnh đốn thói quen của sĩ phu”, “quan tốt mà dân yên”, “dựa vào pháp luật mà cai trị”,  “chửa hồi bệnh đau khổ của nhân dân”, “nuôi dân chăm cày cấy”, “nuôi quân trù phương lược”, “binh giỏi lương đủ như nguồn nước chảy mãi không hết”.

Khi đi Pháp về, tầm mắt của cụ được mở rộng, cụ đã kêu gọi bá quan văn võ mau thức tỉnh canh tân đất nước trong bài Tự Thán:

 

Từ ngày đi sứ đến Tây Kinh

Thấy việc Âu Châu phải giựt mình

Kêu rú đồng ban mau thức dậy

Hết lời năn nỉ chẳng ai tin.

 

và khuyên vua mở cửa  giao thiệp với các nước bạn, giao thương với nước ngoài, cho dân xuất dương du học. Đó cũng là những việc sau này Nguyễn Trường Tộ và Phan Châu Trinh đề xướng.

Nhân cách và lối sống của cụ Phan cao đẹp như thế nên dù ở bất cứ giai đọan lịch sử nào cũng là những tấm gương sáng cho hậu thế noi theo.

Mỗi đức tính “Thanh Liêm” của cụ cũng là một bài học quý báu dành cho xã hội Việt Nam ngày nay vì giờ đây “Tham Nhũng” đã trở thành một “Quốc Nạn”.

42  năm trôi qua nơi quê nhà dân chúng sống trong cảnh an bình, nhưng xã hội vẫn chưa thật sự phồn vinh, vì  nền kinh tế còn ọp ẹp, quá lệ thuộc vào Trung Quốc, không sánh bằng một số nước  khác trong khu vực Đông Nam Á, đặc biệt khi so với Hàn Quốc, từng  là một trong những  xứ nghèo nhứt thế giới, nhưng sau khi đất nước có được một thể chế dân chủ tự do thật sự và chỉ sau 20 năm xây dựng (1980-2000)  trở nên giàu mạnh, và hiện nay là quốc gia có nền kinh tế đứng  hàng thứ  4 ở Á  châu và  thứ  11 trên thế  giới. Ngoài ra ngày nay, mặc dù quê hương Việt Nam đã im tiếng súng nhưng hiễm họa ngoại xâm từ phương Bắc vẫn còn đó, an ninh và chủ quyền biển đảo ở Biển Đông là vấn đề thời  sự nóng bỏng nên một số điều cụ Phan Thanh Giản đã đề xuất với vua Thiệu Trị, Tự Đức ngày trước trong các sớ tâu, như “lấy ý dân để sửa đổi chánh pháp”, “cải cách việc tuyển dụng quan lại”, đáng kể nhứt  là “tư tưởng canh tân để nước nhà phồn thịnh và hùng mạnh” vẫn còn có giá trị  cho đất nước Việt Nam và đối với những ai nặng lòng với tổ quốc, quan tâm đến sự phát triển xứ sở, toàn vẹn lãnh thỗ lãnh hải và tiền đồ của dân tộc.

Trân trọng kính chào

 

Tài liệu tham khảo

 

  1. Châu bản triều Nguyễn. Tự Đức nhị thập niên. Tứ nguyệt Thất nguyệt. Ngày 17-11-T Đ XX (1867) tr.187-190
  2. Đại Nam thực lục, t.31. Hà Nội, 1974, tr. 65-66.
  3. Đại Nam thực lục, t.31. Hà Nội, 1974, tr. 296.
  4. Đại Nam thực lục, t.37. Hà Nội, 1977, tr. 23-35
  5. Đại Nam chính biên liệt truyện, t.4. Huế 1993, tr. 37-42
  6. Hoàng Lại Giang: “Phan Thanh Giản – Một Nhân cách lớn“. Thế kỷ XXI Nhìn về Nhân Vật Lịch Sử Phan Thanh Giản tr.165-171. Nhà Xuất Bản Văn Hóa Sài Gòn. Số ĐKKHXB: 794-2006/CXB/2-13-06/VHSG
  7. Huỳnh Long Vân: “Phan Thanh Giản và việc mất 6 tỉnh Nam kỳ”. Tập san số 11 năm 2017 Nghiên cứu Văn Hóa Đồng Nai & Cửu Long Úc châu tr. 71-90
  8. Huỳnh Long Vân: “Vận động bảo tồn kiến trúc Trường Trung Học Phan Thanh Giản Cần Thơ”. Phát biểu tại ĐH PTG& ĐTĐ XXI tổ chức vào ngày 06/5/2017 tại Houston, Texas, USA, ptgdtdusa.com
  1. Lăng Tự Đức https://vi.wikipedia.org/wiki/Lăng_Tự_Đức
  1. Nguyễn Nghị, Nguyễn Hạnh: “Phan Thanh Giản, nhà yêu nước, người mở đường”. Thế kỷ XXI Nhìn về Nhân vật Lịch sử Phan Thanh Giản tr.221-228. Nhà Xuất Bản Văn Hóa Sài Gòn. Số ĐKKHXB: 794-2006/CXB/2-13-06/VHSG
  2. Phạm Văn Sơn: “Chung quanh cái chết và trách nhiệm của Phan Thanh Giản trước các biến c của Nam kỳ cuối thế kỷ XIX”. Đặc khảo về Phan Thanh Giản tr. 84-100. Tập San Sử Địa. Nhà Xuất bản Hồng Đức. Tạp chí Xưa & Nay. Số ĐKKHXB: 4054-2015/CXBI-PH/25-105/HĐ.
  3. Phan Huy Lê: “Phan Thanh Giản (1796-1867) con người, sự nghiệp và bi kịch cuộc đời”. Thế kỷ XXI Nhìn về Nhân Vật Lịch Sử Phan Thanh Giản tr. 291-307. Nhà Xuất Bản Văn Hóa Sài Gòn. Số ĐKKHXB: 794-2006/CXB/2-13-06/VHSG
  4. Phù Lang Trương Bá Phát: “Kinh Lược Đại thần Phan Thanh Giản với sự chiếm cứ ba tỉnh miền Tây”. Đặc khảo về Phan Thanh Giản tr. 46-83. Tập San Sử Địa. Nhà Xuất bản Hồng Đức. Tạp chí Xưa & Nay. Số ĐKKHXB: 4054-2015/CXBI-PH/25-105/HĐ.
  5. Trần Mỹ Vân: “Phan Thanh Giản: 150 năm nhìn lại”. Bài thuyết trình tại buổi phát hành Tập san số 11 năm 2017 Nghiên cứu Văn Hóa Đồng Nai & Cửu Long Úc châu tổ chức vào ngày 09/04/2017 tại Cabramatta Bowling Club,NSW, Australia, www.Lyhuong.net
  6. Trần Quốc Giám: “Cuộc đời Phan Thanh Giản (1796 -1867)”. Đặc khảo về Phan Thanh Giản tr.101-124. Tập San Sử Địa. Nhà Xuất bản Hồng Đức. Tạp chí Xưa & Nay. Số ĐKKHXB: 4054-2015/CXBI-PH/25-105/HĐ
  7. Văn Tạo: “Sự nghiệp và vai trò lịch sử của Phan Thanh Giản”. Thế kỷ XXI Nhìn về Nhân vật Lịch sử Phan Thanh Giản tr.23-36. Nhà Xuất Bản Văn Hóa Sài Gòn. Số ĐKKHXB: 794-2006/CXB/2-13-06/VHSG